CHUYỂN ĐỔI DU LỊCH XANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH – TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG

CHUYỂN ĐỔI DU LỊCH XANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH – TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG

TS. Nguyễn Anh Tuấn và Nhóm nghiên cứu Đề tài (Viện Kinh tế Du lịch)

Bài viết phản ánh kết quả nghiên cứu của Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”.

Tóm tắt

Bài viết phân tích tiềm năng và thực trạng chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”. Kết quả nghiên cứu cho thấy Bắc Ninh sở hữu cấu trúc tài nguyên đặc biệt, kết hợp giữa không gian di sản – văn hóa Kinh Bắc với các không gian sinh thái, cộng đồng, tâm linh và nông thôn; đồng thời có lợi thế rõ về vị trí địa lý, liên kết vùng, thị trường khách, hạ tầng giao thông, nền tảng công nghiệp – dịch vụ và dư địa chuyển đổi số. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, nhất là sự thiếu đồng bộ về thể chế, quản lý còn nặng tính hành chính, đầu tư chưa thực sự chuyển sang tư duy xanh, sản phẩm du lịch còn thiếu chiều sâu và cơ chế phối hợp giữa Nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng chưa đủ mạnh. Bài viết khẳng định rằng chuyển đổi du lịch xanh ở Bắc Ninh không chỉ là yêu cầu về bảo vệ môi trường, mà còn là con đường để tái cấu trúc mô hình phát triển du lịch, nâng cao chất lượng tăng trưởng, làm mới bản sắc điểm đến và gia tăng năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới.

Từ khóa: du lịch xanh; chuyển đổi du lịch xanh; phát triển bền vững; Bắc Ninh; điểm đến du lịch.

GREEN TOURISM TRANSFORMATION IN BAC NINH PROVINCE: POTENTIALS AND CURRENT SITUATION

Abstract

This article examines the potentials and the current situation of green tourism transformation in Bac Ninh Province, based on the research findings of the project “Research on the current situation and solutions for green tourism transformation in Bac Ninh Province”. The study indicates that Bac Ninh possesses a distinctive resource structure, combining the cultural-heritage space of Kinh Bac with ecological, community-based, spiritual and rural tourism spaces. The province also enjoys strategic advantages in geographical location, regional connectivity, tourist markets, transport infrastructure, an industrial-service base and digital transformation potential. However, the green transformation process still faces major bottlenecks, notably fragmented institutional arrangements, an administrative management approach, limited green-oriented investment, shallow tourism products, and an insufficient coordination mechanism among the State, enterprises and local communities. The article argues that green tourism transformation in Bac Ninh should be considered not merely an environmental requirement, but a strategic pathway for restructuring the tourism development model, improving the quality of growth, renewing destination identity and enhancing competitiveness in the new context.

Keywords: Green tourism; green tourism transformation; sustainable development; Bac Ninh; tourism destination.

  1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và cạnh tranh điểm đến ngày càng gay gắt, phát triển du lịch theo hướng xanh đã trở thành xu thế lớn trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Thực tiễn cho thấy du lịch không mặc nhiên là “ngành công nghiệp không khói”; nếu phát triển theo chiều rộng, thiếu kiểm soát và nặng mục tiêu ngắn hạn, du lịch có thể gây áp lực lên tài nguyên, hạ tầng, cảnh quan, di sản và đời sống cộng đồng. Vì vậy, chuyển đổi du lịch xanh cần được hiểu là quá trình tái cấu trúc mô hình phát triển du lịch theo hướng hiệu quả hơn về kinh tế, tiết kiệm hơn về tài nguyên, có trách nhiệm hơn với môi trường và hài hòa hơn về lợi ích xã hội.

Ở Việt Nam, định hướng phát triển du lịch bền vững, chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao đã được xác lập tương đối rõ trong Luật Du lịch năm 2017, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Các văn kiện này hàm ý rằng phát triển du lịch trong giai đoạn mới không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên theo chiều rộng, mà phải hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên giá trị, đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ và phát triển xanh.

Đối với Bắc Ninh, yêu cầu chuyển đổi du lịch xanh có ý nghĩa đặc biệt. Tỉnh nằm trong không gian phát triển năng động của vùng Thủ đô, có khả năng kết nối thuận lợi với Hà Nội và các trung tâm du lịch lớn ở miền Bắc, đồng thời sở hữu cấu trúc tài nguyên du lịch nhiều lớp: không gian văn hóa Kinh Bắc, hệ thống lễ hội, làng nghề, di sản nghệ thuật dân gian, kết hợp với các không gian sinh thái, cộng đồng, tâm linh và nông thôn ở khu vực phía Bắc tỉnh. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa, cộng đồng, làng nghề, sinh thái, nghỉ dưỡng ngắn ngày và trải nghiệm sáng tạo theo hướng xanh.

Tuy nhiên, tiềm năng lớn không đồng nghĩa với năng lực chuyển đổi hiện hữu. Kết quả nghiên cứu của Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” cho thấy địa phương tuy đã có những tiền đề tích cực về tăng trưởng thị trường, hạ tầng, chính sách và nhận thức, nhưng quá trình chuyển đổi vẫn đang ở giai đoạn đầu và bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ hai nội dung: tiềm năng và thực trạng chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, qua đó rút ra một số nhận định mang tính khái quát cho giai đoạn tới.

  1. Cơ sở tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Bài viết phản ánh trực tiếp kết quả nghiên cứu của Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, đồng thời tham chiếu thêm một số kết quả nghiên cứu về phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh ở Việt Nam. Về lý luận, bài viết tiếp cận du lịch xanh theo nghĩa rộng, tức là trạng thái phát triển trong đó mục tiêu kinh tế, bảo vệ tài nguyên – môi trường, giảm phát thải, phát huy giá trị văn hóa và nâng cao sinh kế cộng đồng được theo đuổi đồng thời trong một cấu trúc phát triển tích hợp. Cách hiểu này tương thích với các tiếp cận của UNEP, OECD và nhiều công trình nghiên cứu trong nước gần đây (UNEP, 2011; OECD, 2011; Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự, 2020).

Từ góc độ này, chuyển đổi du lịch xanh không chỉ là việc tạo ra một số sản phẩm thân thiện với môi trường, mà là quá trình điều chỉnh mô hình phát triển du lịch từ “tăng trưởng theo chiều rộng” sang “tăng trưởng theo chiều sâu”, từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang quản trị dựa trên hiệu quả sử dụng tài nguyên, chất lượng trải nghiệm, đổi mới công nghệ, sự tham gia của cộng đồng và giảm thiểu tác động tiêu cực.

Bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp: nghiên cứu tài liệu để hệ thống hóa các văn bản chính sách, báo cáo quản lý, chuyên đề thành phần và công trình nghiên cứu liên quan; phân tích – tổng hợp để nhận diện các yếu tố cấu thành tiềm năng và thực trạng; so sánh để đối chiếu Bắc Ninh với một số xu hướng phát triển du lịch xanh trong nước; và tiếp cận hệ thống để xem xét mối liên hệ giữa tài nguyên, thể chế, hạ tầng, thị trường, công nghệ, nguồn nhân lực và quản trị điểm đến. Bài viết cũng kế thừa kết quả khảo sát thực địa, điều tra xã hội học và hệ thống tiêu chí nghiên cứu được xây dựng trong khuôn khổ Đề tài.

  1. Tiềm năng chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Tiềm năng nổi bật nhất của Bắc Ninh nằm ở cấu trúc tài nguyên du lịch đặc biệt đa dạng và có khả năng bổ trợ lẫn nhau. Trên nền tảng văn hóa Kinh Bắc, Bắc Ninh sở hữu hệ thống di sản vật thể và phi vật thể có giá trị cao, các không gian văn hiến, làng nghề truyền thống, lễ hội, tín ngưỡng và nghệ thuật dân gian đặc sắc. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa, du lịch làng nghề, du lịch giáo dục di sản, du lịch sáng tạo và các sản phẩm du lịch cộng đồng gắn với bản sắc địa phương. Bên cạnh đó, khu vực phía Bắc tỉnh lại mở ra không gian lớn cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn, du lịch nghỉ dưỡng ngắn ngày và du lịch tâm linh – cảnh quan với những điểm nhấn như Tây Yên Tử, Suối Mỡ, Khe Rỗ, hồ Khuôn Thần và các vùng cây ăn quả (BCĐ Phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang, 2022; 2024).

Sự kết hợp giữa “chiều sâu văn hóa” và “chiều rộng sinh thái” tạo cho Bắc Ninh điều kiện hiếm có để phát triển du lịch xanh theo mô hình tích hợp. Nếu nhiều địa phương chỉ mạnh về một lớp tài nguyên, thì Bắc Ninh có thể tổ chức các chuỗi sản phẩm đa tầng: văn hóa – lễ hội – làng nghề; sinh thái – cộng đồng – nông thôn; tâm linh – cảnh quan – nghỉ dưỡng; trải nghiệm sáng tạo – giáo dục di sản – tiêu dùng xanh. Tính đa dạng này giúp địa phương vừa tránh phụ thuộc vào một loại hình duy nhất, vừa phân tán áp lực khai thác tài nguyên, từ đó nâng cao khả năng thích ứng của điểm đến.

Tiềm năng thứ hai là lợi thế vị trí địa lý và khả năng liên kết vùng. Bắc Ninh ở gần Hà Nội và nằm trong không gian kết nối thuận lợi với các trung tâm kinh tế, đô thị và du lịch lớn của miền Bắc. Điều này cho phép tỉnh phát triển hiệu quả các sản phẩm du lịch cuối tuần, du lịch ngắn ngày, du lịch theo tuyến và du lịch vệ tinh cho các trung tâm du lịch lớn. Từ góc độ phát triển xanh, đây là lợi thế quan trọng vì nhiều sản phẩm du lịch xanh phát huy hiệu quả tốt trong các hành trình ngắn, ít phát thải hơn, có tính lặp lại cao và tạo được giá trị gia tăng từ trải nghiệm văn hóa – bản địa.

Tiềm năng thứ ba nằm ở quy mô thị trường và nền tảng kinh tế – xã hội. Năm 2024, Bắc Ninh đón khoảng 2,3 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt khoảng 1.900 tỷ đồng; đến năm 2025, tổng lượng khách ước đạt 6,3 triệu lượt, doanh thu khoảng 5.500 tỷ đồng, cho thấy tốc độ mở rộng thị trường khá mạnh của địa phương trong giai đoạn gần đây (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh, 2025; Sở VHTTDL Bắc Ninh, 2026). Song song với đó, nền công nghiệp – dịch vụ phát triển, tốc độ đô thị hóa cao và sự hiện diện của lực lượng chuyên gia, lao động chất lượng cao cũng tạo ra nguồn cầu dịch vụ đáng kể cho du lịch văn hóa, du lịch trải nghiệm và du lịch cuối tuần.

Tiềm năng thứ tư là hạ tầng và chuyển đổi số. Hạ tầng giao thông liên vùng, hạ tầng đô thị và kết nối thông tin của Bắc Ninh đã và đang được cải thiện. Đồng thời, chuyển đổi số ngày càng được chú trọng trong quản trị địa phương; điều này tạo tiền đề để du lịch phát triển theo hướng số hóa thông tin, tăng cường quảng bá trực tuyến, số hóa tài nguyên, xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch và từng bước tiến tới quản trị điểm đến dựa trên dữ liệu.

Cuối cùng, Bắc Ninh đã có những tiền đề thể chế bước đầu. Trên địa bàn nghiên cứu đã xuất hiện nhiều chương trình, kế hoạch và mô hình liên quan đến phát triển du lịch, phát triển du lịch cộng đồng, quảng bá, liên kết vùng, chuyển đổi số và xúc tiến đầu tư. Dù chưa cấu thành một hệ thống chính sách du lịch xanh hoàn chỉnh, nhưng đây là “vốn thể chế ban đầu” quan trọng để Bắc Ninh có thể chuyển đổi mạnh hơn trong giai đoạn tới.

  1. Thực trạng chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình chuyển đổi du lịch xanh ở Bắc Ninh đã có những chuyển động tích cực, nhưng còn chậm và chưa đồng đều. Trước hết, thị trường du lịch của tỉnh đang tăng trưởng rõ rệt. Ở khu vực Bắc Giang trước đây, năm 2024 tổng lượng khách du lịch ước đạt 2,6 triệu lượt, doanh thu khoảng 2.000 tỷ đồng; số khu, điểm du lịch được công nhận, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và hướng dẫn viên đều tăng lên so với giai đoạn trước (BCĐ Phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang, 2024). Ở khu vực Bắc Ninh, năm 2024 toàn tỉnh đón khoảng 2,3 triệu lượt khách, doanh thu đạt 1.900 tỷ đồng; các tháng đầu năm 2025 tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng mạnh (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh, 2025). Điều này cho thấy du lịch của địa bàn nghiên cứu đã hình thành một nền cầu đủ rõ để đặt ra yêu cầu chuyển từ tăng trưởng số lượng sang nâng cấp chất lượng.

Về mặt sản phẩm, nhiều thành tố của du lịch xanh đã xuất hiện trong thực tiễn. Một số mô hình du lịch cộng đồng gắn với vùng cây ăn quả, làng nghề, nông thôn và không gian bản địa đã được quan tâm; tuyến, điểm du lịch tâm linh – sinh thái – cộng đồng ở Tây Yên Tử bước đầu tạo được dấu ấn; các sản phẩm gắn với văn hóa Kinh Bắc, làng nghề, lễ hội và không gian sáng tạo địa phương cũng ngày càng được chú ý hơn. Việc phát triển du lịch gắn với quảng bá nông sản, vùng cây ăn quả, tuần văn hóa – du lịch và liên kết xúc tiến với các tỉnh trong vùng cho thấy tư duy phát triển du lịch đã có xu hướng gắn nhiều hơn với chuỗi giá trị địa phương.

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ chuyển đổi xanh, những chuyển động này mới chỉ là bước khởi đầu. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là sự thiếu đồng bộ về thể chế. Các chính sách liên quan đến du lịch xanh đang phân tán ở nhiều lĩnh vực: du lịch, văn hóa, nông thôn mới, bảo vệ môi trường, chuyển đổi số, xúc tiến đầu tư và phát triển cộng đồng. Mỗi chính sách có giá trị riêng, nhưng chưa được kết nối thành một kiến trúc thể chế chung đủ mạnh để dẫn dắt quá trình chuyển đổi. Do đó, phát triển du lịch vẫn chủ yếu vận hành theo logic của từng ngành, từng địa bàn, từng dự án hoặc từng sự kiện.

Điểm nghẽn thứ hai là mô hình quản lý còn nặng tính hành chính, chưa chuyển mạnh sang quản trị điểm đến xanh. Nhiều hoạt động quản lý hiện nay tập trung vào công nhận điểm đến, quảng bá, tổ chức sự kiện và xử lý vụ việc phát sinh, trong khi các công cụ cốt lõi của quản trị xanh như kiểm soát sức chứa, hệ thống chỉ số giám sát tác động, quản lý chất lượng môi trường tại điểm đến, chuẩn dịch vụ xanh, cơ chế phối hợp Nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng hay quản trị theo cụm điểm đến vẫn chưa được thiết lập đồng bộ. Điều này làm cho nhiều hoạt động phát triển tuy có yếu tố “xanh” trong thông điệp, nhưng chưa đạt tới mức “xanh” trong cấu trúc vận hành.

Điểm nghẽn thứ ba nằm ở đầu tư. Nguồn lực đầu tư cho du lịch của Bắc Ninh trong giai đoạn vừa qua vẫn chủ yếu nghiêng về mở rộng điểm đến, cải thiện hạ tầng tiếp cận, phát triển cơ sở dịch vụ và tổ chức xúc tiến. Trong khi đó, đầu tư cho hạ tầng môi trường, xử lý rác và nước thải, tiết kiệm năng lượng, cảnh quan công cộng, diễn giải di sản, số hóa quản trị và đào tạo nguồn nhân lực xanh còn khá mỏng. Đây là hạn chế quan trọng, bởi trong du lịch xanh, giá trị không nằm ở số lượng công trình, mà nằm ở hiệu quả tài nguyên, chất lượng trải nghiệm và khả năng giảm thiểu tác động tiêu cực.

Điểm nghẽn thứ tư là sản phẩm du lịch còn thiếu chiều sâu. Nhiều sản phẩm hiện vẫn dựa chủ yếu vào lợi thế tài nguyên sẵn có, lễ hội, điểm tham quan, làng nghề hoặc cảnh quan; nhưng chưa được tổ chức thành những trải nghiệm hoàn chỉnh theo tiêu chí xanh: ít rác thải, sử dụng hợp lý năng lượng và nước, có diễn giải văn hóa – môi trường, có chuỗi cung ứng bản địa, có sự tham gia thực chất của cộng đồng và có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng. Vì thế, giá trị gia tăng từ du lịch tạo ra chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.

Bên cạnh đó, sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng vào chuỗi du lịch xanh chưa thật sự đồng đều. Nhiều chủ thể cộng đồng và làng nghề đã bước đầu tham gia vào du lịch, song phần lớn vẫn ở vai trò cung ứng phụ trợ. Doanh nghiệp du lịch cũng mới dừng nhiều ở khai thác thị trường và dịch vụ truyền thống, trong khi chuyển đổi mô hình quản trị, chuẩn vận hành xanh và liên kết chuỗi giá trị địa phương còn hạn chế. Nhìn tổng thể, Bắc Ninh đã có nhiều tiền đề thuận lợi cho chuyển đổi du lịch xanh, nhưng quá trình chuyển đổi mới dừng ở mức “có yếu tố xanh” chứ chưa đạt tới “mô hình phát triển xanh” theo nghĩa đầy đủ.

  1. Một số nhận định từ kết quả nghiên cứu

Từ việc phân tích tiềm năng và thực trạng, có thể rút ra một nhận định cốt lõi: Bắc Ninh là địa phương mạnh về tiềm năng nhưng mới ở giai đoạn đầu về năng lực chuyển đổi du lịch xanh. Điều đó có nghĩa là vấn đề của tỉnh hiện nay không nằm ở chỗ thiếu tài nguyên hay thiếu cơ hội thị trường, mà ở chỗ chưa chuyển hóa được lợi thế thành một kiến trúc phát triển mới. Nói cách khác, Bắc Ninh đã có “vật liệu” để phát triển du lịch xanh, nhưng chưa có đầy đủ “thiết kế” và “công cụ” để triển khai.

“Thiết kế” ở đây bao gồm khung chính sách tích hợp, mô hình quản trị điểm đến xanh, cấu trúc không gian du lịch, cụm sản phẩm ưu tiên và bộ chỉ tiêu giám sát phù hợp. “Công cụ” ở đây là đầu tư có trọng tâm, bộ tiêu chí áp dụng được cho doanh nghiệp và cộng đồng, cơ chế liên kết giữa các chủ thể, nguồn nhân lực được đào tạo tương thích và năng lực quản trị bằng dữ liệu. Khi thiếu những yếu tố này, phát triển du lịch rất dễ rơi vào trạng thái tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng thấp, nhiều hoạt động nhưng ít tích lũy giá trị dài hạn.

Một hàm ý quan trọng từ Đề tài là việc xây dựng bộ tiêu chí du lịch xanh cho doanh nghiệp và bộ tiêu chí du lịch xanh cho điểm đến cộng đồng có thể xem là bước đi nền tảng. Nếu không có công cụ lượng hóa, du lịch xanh sẽ vẫn chỉ là khái niệm định tính, khó triển khai, khó đánh giá và khó nhân rộng. Tiêu chí giúp chuyển “ý tưởng xanh” thành “quy chuẩn thực thi”; giúp doanh nghiệp, cộng đồng và cơ quan quản lý có cùng ngôn ngữ vận hành; đồng thời tạo ra cơ sở cho công nhận, hỗ trợ, giám sát và truyền thông.

Kết quả nghiên cứu cũng gợi mở rằng Bắc Ninh không nên triển khai du lịch xanh theo cách dàn đều trên toàn bộ không gian tỉnh ngay từ đầu. Phù hợp hơn là tiếp cận theo hướng lựa chọn một số cụm hoặc tuyến trọng điểm để thí điểm, trong đó mỗi cụm có một logic phát triển riêng: cụm văn hóa – di sản – làng nghề; cụm sinh thái – cộng đồng – nông thôn; cụm tâm linh – cảnh quan – nghỉ dưỡng ngắn ngày. Cách làm này vừa giúp giảm chi phí triển khai ban đầu, vừa cho phép hình thành các mô hình mẫu để đánh giá, điều chỉnh và nhân rộng.

Từ góc nhìn chiến lược, có thể nói chuyển đổi du lịch xanh chính là cơ hội để Bắc Ninh tái định vị bản sắc điểm đến. Thay vì cạnh tranh bằng số lượng điểm tham quan hay số lượng sự kiện, địa phương có thể hướng tới hình ảnh một không gian du lịch văn hóa – sinh thái – sáng tạo, nơi du khách không chỉ đến để xem, mà còn để trải nghiệm, học hỏi, tương tác và tiêu dùng có trách nhiệm.

  1. Kết luận

Chuyển đổi du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh mới, đồng thời là cơ hội chiến lược để tái cấu trúc mô hình phát triển du lịch của địa phương theo hướng chất lượng, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy Bắc Ninh có nhiều tiềm năng nổi bật: cấu trúc tài nguyên văn hóa – sinh thái đa tầng, vị trí liên kết vùng thuận lợi, thị trường du lịch đang mở rộng, hạ tầng và chuyển đổi số có triển vọng, cùng với những tiền đề thể chế và sản phẩm bước đầu đã được hình thành. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương phát triển các mô hình du lịch xanh đặc thù.

Tuy nhiên, thực trạng cũng cho thấy quá trình chuyển đổi hiện nay mới ở giai đoạn đầu và còn nhiều điểm nghẽn: thiếu khung chính sách tích hợp, quản lý chưa chuyển mạnh sang quản trị điểm đến, đầu tư chưa thật sự xanh, sản phẩm còn thiếu chiều sâu và năng lực tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng còn hạn chế. Vì vậy, bài toán trung tâm của Bắc Ninh hiện nay không phải là “có nên phát triển du lịch xanh hay không”, mà là “chuyển đổi bằng cách nào để du lịch xanh trở thành năng lực phát triển thực sự”.

Từ kết quả của Đề tài có thể khẳng định rằng, nếu biết lựa chọn đúng hướng đi, xây dựng được bộ tiêu chí phù hợp, tổ chức thí điểm có trọng tâm, phát huy vai trò của cộng đồng và doanh nghiệp, đồng thời lồng ghép chuyển đổi số với đổi mới quản trị, Bắc Ninh hoàn toàn có khả năng hình thành một mô hình du lịch xanh có bản sắc riêng. Khi đó, du lịch xanh không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường, mà còn là con đường để nâng cao chất lượng tăng trưởng, gia tăng giá trị tài nguyên, làm mới hình ảnh điểm đến và đóng góp tích cực cho phát triển bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo

  1. BCĐ Phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang (2022), Báo cáo kết quả công tác phát triển du lịch tỉnh năm 2022, phương hướng nhiệm vụ năm 2023.
  2. BCĐ Phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang (2024), Báo cáo kết quả công tác phát triển du lịch năm 2024, nhiệm vụ trọng tâm năm 2025.
  3. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
  4. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh (2025), Du lịch Bắc Ninh đón 6,3 triệu lượt khách, tăng 26% so với năm 2024.
  5. Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2020), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch Việt Nam theo hướng tăng trưởng xanh, Viện NCPT Du lịch, Hà Nội.
  6. OECD (2011), Towards Green Growth, OECD Publishing, Paris.
  7. Quốc hội (2017), Luật Du lịch số 09/2017/QH14, Hà Nội.
  8. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang (2024), Báo cáo kết quả triển khai Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
  9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh (2026), Báo cáo tổng kết công tác du lịch năm 2025, phương hướng nhiệm vụ năm 2026.
  10. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
  11. UNEP (2011), Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication, United Nations Environment Programme, Nairobi.